Nguyễn Mạnh Khải

Main Article Content


According to the Law on Environmental Protection, the Environmental Impact Assessment (EIA) report must be approved for investment in the construction of industrial zone (IZ), in which the amount of wastewater discharged by the IZ needs to be estimated. The study was conducted to review 114 IZs EIA reports approved from 2006 to 2016 with an occupying rate of 80-100%. In order to estimate wastewater dischaged from IZ, four methods have been applied: (1) estimating the amount of wastewater corresponding to water demand based on the area of the IZ; (2) using the coefficient of wastewater based on the area of the IZ; (3) basing on the performances of previous periods and (4) unknown basis of calculation. The most common method is the first one applying TCXDVN 33:2006, accounting for 37.72% of the reports. RMSE of this method is 9,000m3/day which is the highest among four methods. The main cause for this difference is the exclusion of production features technical guidelines. Besides, there is no consideration of the coefficients of water supply and wastewater for non-industrial components such as warehouses, service areas, technical and administrative areas.

Keywords: Projected wastewater, industrial wastewater, industrial zone, environmental impact assessment.


[1] Ô nhiễm môi trường vì Khu công nghiệp, Viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, 2012 (
[2] Vụ Quản lý các Khu kinh tế, Báo cáo tại Hội thảo chuyên gia quốc tế về Khu công nghiệp sinh thái tại Việt Nam, Hội An, 9/2016, 2016.
[3] Yuan, Z., Jiang, W., Bi, J., Cost-effectiveness of two operational models at industrial wastewater treatment plants in China: a case study in Shengze town, Suzhou City. J. Environ. Manag. 91, p2038-2044, 2010.
[4] Tran Hieu Nhue, Nguyen Viet Anh, Water environment and water pollution control in Vietnam: overview of status and measures for future, Annual Report of FY 2004, The Core University Program between Japan Society for the Promotion of Science (JSPS) and Vietnamese Academy of Science and Technology (VAST) P.189-P.195, 2005.
[5] Trần Văn Tú, Đánh giá thực trạng xả thải nước thải từ các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, Luận văn Thạc sỹ Khoa học Môi trường, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2015.
[6] Bộ Tài nguyên và Môi trường. Báo cáo tình hình xây dựng, vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung tại các khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, Hà Nội, 11/2014.
[7] Jurgis K. Staniškis, Valdas Arbačiauskas, Sustainability Performance Indicators for Industrial Enterprise Management, Environmental Research, Engineering and Management, No. 2(48), P. 42-50, 2009.
[8] European Commission, Default emission factors for industrial processes. Vol. Version 1.0 April 2007.
[9] WB, International Finance Corporation’s Environmental, Health, and Safety Guidelines. 2007.
[10] TCVN 51:1984 “Thoát nước - Mạng lưới và công trình bên ngoài tiêu chuẩn thiết kế” do Bộ Xây dựng ban hành
[11] TCXDVN 33:2006 “Cấp nước - Mạng lưới và công trình bên ngoài, tiêu chuẩn thiết kế” do Bộ Xây dựng ban hành
[12] TCVN 7957:2008 “Thoát nước - Mạng lưới và công trình bên ngoài. Tiêu chuẩn thiết kế” do Bộ Xây dựng ban hành
[13] QCVN 07:2010 “Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị” do Bộ Xây dựng ban hành
[14] Tianfeng Chai and Roland R. Draxler, Root mean square error (RMSE) or mean absolute error (MAE)? – Arguments against avoiding RMSE in the literature, Geosci. Model Develop, 2014.